Một số nội dung chủ yếu của chính sách thuế Sử dụng đất phi nông nghiệp

Ngày 23/12/2011

Phần 1

SỰ CẦN THIẾT, MỤC TIÊU, YÊU CẦU

I. Sự cần thiết ban hành luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp.

Chính sách thuế nhà, đất đang thực hiện theo Pháp lệnh thuế nhà, đất ngày 31/7/1992 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thuế nhà đất ngày 19/5/1994. Sau hơn 15 năm thực hiện, Pháp lệnh thuế nhà, đất cơ bản đã đạt dược các mục tiêu, yêu cầu đề ra khi ban hành Pháp lệnh, cụ thể là: Góp phần tăng cường quản lý nhà nước đối với việc sử dụng đất ở, đất xây dựng công trình, khuyến khích tổ chức, cá nhân sử dụng đất tiết kiệm phù hợp với Luật đất đai 1993; thực hiện chính sách ưu đãi của nhà nước đối với các đối tượng cần được hỗ trợ, gia đình chính sách, người có công; động viên sự đóng góp của người sử dụng đất vào ngân sách nhà nước, góp phần tạo nguồn thu cho ngân sách địa phương để thực hiện các nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương.

Bên cạnh kết quả đạt được như nêu trên, Pháp lệnh thuế nhà, đất đã bộc lộ một số hạn chế cần được hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong tình hình mới. Cụ thể:

- Về đối tượng chịu thuế: Theo Pháp lệnh thuế nhà, đất thì đối tượng chịu thuế là nhà, đất ở, đất xây dựng công trình, tạm thời chưa thu thuế đối với nhà và chưa quy định về thuế nhà.

 - Về căn cứ tính thuế: Pháp lệnh thuế nhà, đất quy định căn cứ tính thuế dựa trên cơ sở thuế sử dụng đất nông nghiệp là diện tích đất, hạng đất và mức thuế. Trong đó:

+ Hạng đất tính thuế được xác định căn cứ vào các yếu tố chất đất, vị trí, địa hình, khí hậu, thời tiết và điều kiện tưới tiêu... là phù hợp với việc phân loại để thu thuế sử dụng đất nông nghiệp nhưng không phù hợp với đất ở, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp.

+ Mức thuế được tính bằng kilôgam thóc trên l ha của từng hạng đất căn cứ vào mục đích sử dụng và khả năng thu hoa lợi trên đất, nay không còn phù hợp trong điều kiện chính sách tài chính liên quan đến đất đai thực hiện thống nhất theo quy định của Luật đất đai năm 2003 (sử dụng giá đất do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ban hành làm căn cứ để tính các khoản thu về đất).

Pháp lệnh thuế nhà, đất chưa có sự điều tiết hợp lý đối với người có quyền sử dụng nhiều thửa đất với diện tích lớn (hoặc diện tích chưa sử dụng, diện tích đất lấn chiếm) để khuyến khích sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả và hạn chế việc giao đất nhưng không sử dụng hoặc lấn chiếm đất hoặc đầu cơ về đất.

- Về chính sách miễn, giảm thuế

Pháp lệnh thuế nhà, đất quy định miễn thuế đối với gia đình thương binh loại l/4, loại 2/4, gia đình liệt sĩ được hưởng chế độ trợ cấp của Nhà nước, nhưng không miễn giảm đối với các đối tượng là người có công với cách mạng như: Người hoạt động cách mạng trước ngày 19/8/1945; thương binh hạng 3/4, 4/4 bệnh binh 2/3, 3/3 dẫn đến chưa công bằng trong quá trình thực hiện.

 Từ những hạn chế trên cho thấy các quy định về quản lý thuế nhà đất trước đây không còn phù hợp với các quy định của Luật Quản lý thuế hiện nay.

II. Mục tiêu, yêu cầu của việc xây dựng Luật thuế sử dụng đất PNN

Việc ban hành Luật thuế sử dụng đất PNN nhằm đảm bảo các mục tiêu, yêu cầu sau:

- Tăng cường quản lý nhà nước đối với đất đai, khuyến khích tổ chức, cá nhân sử dụng đất tiết kiệm, có hiệu quả, góp phần hạn chế đầu cơ về đất và khuyến khích thị trường bất động sản phát triển lành mạnh.

- Khắc phục những mặt hạn chế của chính sách thuế nhà, đất hiện hành. Nâng cao tính pháp lý của pháp luật về thuế đất trên cơ sở bổ sung mới và kế thừa các quy định còn phù hợp

- Các quy định trong Luật không quá phức tạp; phải rõ ràng, dễ thực hiện, dễ quản lý;

- Tiếp cận với thông lệ quốc tế về thuế đất, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hội nhập quốc tế;

- Động viên hợp lý sự đóng góp của người sử dụng đất, nhất là những đối tượng sử dụng đất vượt hạn mức quy định vào ngân sách nhà nước.

 

Phần 2

MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CHÍNH SÁCH THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP

Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp số 48/2010/QH12 có hiệu lực từ ngày 01/01/2012 và thay thế Pháp lệnh thuế nhà, đất năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 1994). Về cơ bản, Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp có nhiều quy định khác biệt so với Pháp lệnh thuế nhà, đất như cách tính thuế, mức thuế đối với đất trong và ngoài hạn mức khác nhau, nhất là Luật quy định sẽ tính thuế cao hơn đối với đất chưa sử dụng hoặc sử dụng sai mục đích, đất lấn chiếm... Do vậy cần phải tập trung tuyên truyền, hướng dẫn những điểm mới của Luật, Nghị định 53/2011/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư số 153/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp để các  các tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc sử dụng đất phi nông nghiệp nắm bắt kịp thời các quy định về đối tượng chịu thuế, không chịu thuế; căn cứ tính thuế, kê khai, nộp thuế; chế độ miễn giảm thuế... Cụ thể:

1. Phạm vi điều chỉnh:

Phạm vi điều chỉnh của Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp mở rộng đến tất cả các đối tượng sử dụng đất trong xã hội, từ các tổ chức được giao đất, cho thuê đất đến hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất vào mục đích sản xuất kinh doanh hoặc để ở, trong khi chính sách thuế nhà đất trước đây mới tập trung vào đất ở của một số đối tượng mà chưa tính đến các đối tượng khác như người sử dụng đất thuê của nhà nước, sử dụng đất được giao (vì mục đích phục vụ lợi ích công cộng) vào hoạt động kinh doanh.

2. Về đối tượng chịu thuế:

Để đảm bảo rõ ràng, minh bạch, thuận tiện trong quá trình thực hiện, Luật, Nghị định và Thông tư đã quy định cụ thể đối với đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp phù hợp với quy định của Luật đất đai 2003 và Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật đất đai.

Quy định cụ thể hơn và mở rộng đối tượng đất chịu thuế đồng thời xoá bỏ quy định chịu thuế đối tượng là nhà ở. Cụ thể đối tượng chịu thuế bao gồm:

- Đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị;

- Đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp gồm:

+ Đất xây dựng khu công nghiệp bao gồm đất để xây dựng cụm công nghiệp, khu công nghiệp, khu chế xuất và các khu sản xuất, kinh doanh tập trung khác có cùng chế độ sử dụng đất;

+ Đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh bao gồm đất để xây dựng cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; xây dựng cơ sở kinh doanh thương mại, dịch vụ và các công trình khác phục vụ cho sản xuất, kinh doanh (kể cả đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh trong khu công nghệ cao, khu kinh tế);

+ Đất để khai thác khoáng sản, đất làm mặt bằng chế biến khoáng sản, trừ trường hợp khai thác khoáng sản mà không ảnh hưởng đến lớp đất mặt hoặc mặt đất;

+ Đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm bao gồm đất để khai thác nguyên liệu và đất làm mặt bằng chế biến, sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm.

- Đất phi nông nghiệp thuộc đối tượng không chịu thuế nhưng được các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng vào mục đích kinh doanh.

3. Về đối tượng không chịu thuế:

Pháp lệnh thuế nhà, đất quy định không thu thuế đất đối với đất sử dụng vì lợi ích công cộng, phúc lợi xã hội hoặc từ thiện không vì mục đích kinh doanh và đất chuyên dùng vào việc thờ cúng của các tôn giáo, các tổ chức không vì mục đích kinh doanh hoặc để ở. Trên cơ sở kế thừa các quy định của Pháp lệnh thuế nhà, đất, Luật thuế sử dụng đất PNN đưa các loại đất này vào đối tượng không chịu thuế và bổ sung thêm: một số loại đất như đất làm nghĩa trang, nghĩa địa không vì mục đích kinh doanh; đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng không vì mục đích kinh doanh; đất có công trình là đình, đền miếu, am, từ đường, nhà thờ họ không vì mục đích kinh doanh cho phù hợp với quy định về phân loại đất của Luật đất đai 2003.

Ngoài ra, Luật thuế sử dụng đất PNN chuyển một số đối tượng thuộc diện miễn thuế theo quy định của Pháp lệnh thuế nhà, đất như đất xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đất sử dụng vào mục đích quốc phòng và an ninh vào đối tượng không chịu thuế nhằm mục đích giảm bớt thủ tục hành chính trong quá trình đăng ký, khai thuế, giảm chi phí trong quá trình quản lý thu.

Cụ thể, chính sách thuế sử dụng đất PNN quy định cụ thể các loại đất không chịu thuế, gồm 8 nhóm đối tượng sau:

-  Đất sử dụng vào mục đích công cộng, gồm: đất giao thông, thuỷ lợi; đất xây dựng công trình văn hoá, y tế giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao phục vụ lợi ích công cộng; đất có di tích lịch sử-văn hoá, danh lam thắng cảnh; đất xây dựng công trình công cộng khác bao gồm đất sử dụng cho mục đích công cộng trong khu đô thị, khu dân cư nông thôn; đất xây dựng kết cấu hạ tầng sử dụng chung trong khu công nghiệp, khu công nghệ cao... Đất sử dụng cho mục đích công cộng trong khu đô thị, khu dân cư nông thôn thực hiện theo quy định tại Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 15/6/2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

- Đất do cơ sở tôn giáo sử dụng bao gồm đất thuộc nhà chùa, nhà thờ, thánh thất, thánh đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo... được Nhà nước cho phép hoạt động.

- Đất làm nghĩa trang nghĩa địa;

- Đất sông ngòi, kênh rạch, suối và mặt nước chuyên dùng;

- Đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ theo khuôn viên của thửa đất có các công trình này.

- Đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trình sự nghiệp như đất xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức sự nghiệp công lập, trụ sở cơ quan đại diện ngoại giao...

- Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, gồm: Đất thuộc doanh trại, trụ sở đóng quân; Đất làm căn cứ quân sự; Đất làm các công trình phòng thủ quốc gia, trận địa và các công trình đặc biệt về quốc phòng, an ninh; Đất làm ga, cảng quân sự; Đất làm các công trình công nghiệp, khoa học và công nghệ phục vụ trực tiếp cho quốc phòng, an ninh; Đất làm kho tàng của các đơn vị vũ trang nhân dân; Đất làm trường bắn, thao trường, bãi tập, bãi thử vũ khí, bãi hủy vũ khí; Đất làm nhà khách, nhà công vụ, nhà thi đấu, nhà tập luyện thể dục, thể thao và các cơ sở khác thuộc khuôn viên doanh trại, trụ sở đóng quân của các đơn vị vũ trang nhân dân; Đất làm trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quản lý...

- Đất phi nông nghiệp để xây dựng các công trình của hợp tác xã phục vụ trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối; đất tại đô thị sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất, xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất xây dựng trạm, trại nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; đất xây dựng cơ sở ươm tạo cây giống, con giống, xây dựng kho, nhà của hộ gia đình, cá nhân để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ sản xuất nông nghiệp.

Lưu ý: Nếu đất thuộc các trường hợp trên nhưng được sử dụng vào mục đích kinh doanh thì vẫn phải nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp.

4. Người nộp thuế:

- Về nguyên tắc, người nộp thuế là các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có quyền sử dụng đất thuộc đối tượng chịu thuế. Trường hợp chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì người đang sử dụng đất là người nộp thuế.

- Quy định rõ hơn về người nộp thuế đối với từng trường hợp sử dụng đất, cụ thể:

+ Người nộp thuế là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có quyền sử dụng đất thuộc đối tượng chịu thuế.

+ Trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) thì người đang sử dụng đất là người nộp thuế.

+ Trường hợp được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư thì người được nhà nước giao đất, cho thuê đất ở là người nộp thuế;

+ Trường hợp người có quyền sử dụng đất cho thuê đất theo hợp đồng thì người nộp thuế được xác định theo thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp trong hợp đồng không có thỏa thuận về người nộp thuế thì người có quyền sử dụng đất là người nộp thuế;

+ Trường hợp đất đã được cấp Giấy chứng nhận nhưng đang có tranh chấp thì trước khi tranh chấp được giải quyết, người đang sử dụng đất là người nộp thuế. Việc nộp thuế không phải là căn cứ để giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất;

+ Trường hợp nhiều người cùng có quyền sử dụng một thửa đất thì người nộp thuế là người đại diện hợp pháp của những người cùng có quyền sử dụng thửa đất đó;

+ Trường hợp người có quyền sử dụng đất góp vốn kinh doanh bằng quyền sử dụng đất mà hình thành pháp nhân mới có quyền sử dụng đất thuộc đối tượng chịu thuế thì pháp nhân mới là người nộp thuế.

+ Trường hợp thuê nhà thuộc sở hữu nhà nước thì người nộp thuế là người cho thuê nhà.

+ Trường hợp được nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án xây nhà ở để bán, cho thuê thì người nộp thuế là người được nhà nước giao đất, cho thuê đất. Trường hợp chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho các tổ chức, cá nhân khác thì người nộp thuế là người nhận chuyển nhượng.

5. Xác định diện tích đất tính thuế:

Diện tích đất tính thuế là diện tích đất phi nông nghiệp thực tế sử dụng.

Quy định cụ thể đối với từng trường hợp sử dụng đất:

- Đất ở, bao gồm cả trường hợp đất ở sử dụng vào mục đích kinh doanh:

+ Trường hợp người nộp thuế có nhiều thửa đất ở trong phạm vi một tỉnh thành phố trực thuộc trung ương thì diện tích đất tính thuế là tổng diện tích các thửa đất ở thuộc diện chịu thuế trong tỉnh.

+ Trường hợp đất đã được cấp Giấy chứng nhận thì diện tích đất tính thuế là diện tích ghi trên Giấy chứng nhận; trường hợp diện tích đất ở ghi trên giấy Chứng nhận nhỏ hơn diện tích đất thực tế sử dụng thì diện tích đất tính thuế là diện tích thực tế sử dụng.

+ Đối với đất ở nhà nhiều tầng nhiều hộ ở, nhà chung cư bao gồm cả trường hợp vừa để ở, vừa để kinh doanh: diện tích đất tính thuế của từng tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được xác định bằng hệ số phân bổ nhân diện tích nhà của từng tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng;

- Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp: Diện tích đất tính thuế là tổng diện tích đất được nhà nước giao, cho thuê sử dụng vào mục đích kinh doanh ghi trên Giấy chứng nhận, Quyết định giao đất, Quyết định hoặc hợp đồng cho thuê đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trường hợp diện tích đất ghi trên giấy chứng nhận, Quyết định giao đất, Quyết định hoặc hợp đồng cho thuê đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thấp hơn diện tích đất thực tế sử dụng vào mục đích kinh doanh thì diện tích đất tính thuế là diện tích đất thực tế sử dụng.

- Đất sử dụng không đúng mục đích, đất lấn, chiếm và đất chưa sử dụng theo đúng quy định được xác định theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

6. Thuế suất: Quy định từng loại đất có mức thuế suất khác nhau; riêng đất ở được xác định theo biểu thuế luỹ tiến (3 bậc). Cụ thể:

- Đất ở bao gồm cả trường hợp sử dụng để kinh doanh được xác định theo biểu thuế luỹ tiến từng phần:

+ Bậc 1: Diện tích trong hạn mức, thuế suất là 0,03%

+ Bậc 2: Phần diện tích vượt không quá 3 lần hạn mức, thuế suất là 0,07%

+ Bậc 3: Phần diện tích vượt trên 3 lần hạn mức, thuế suất là 0,15%

- Áp dụng 1 mức thuế suất 0,03% đối với:

+ Đất ở nhà nhiều tầng nhiều hộ ở, nhà chung cư, công trình xây dựng dưới mặt đất;

+ Đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, đất phi nông nghiệp sử dụng vào mục đích kinh doanh.

+ Đất của dự án đầu tư phân kỳ theo đăng ký của nhà đầu tư được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

- Đất sử dụng không đúng mục đích, đất chưa sử dụng theo đúng quy định áp dụng mức thuế suất: 0,15%

- Đất lấn chiếm áp dụng mưc thuế suất 0,2%

* Một số điểm lưu ý khi áp dụng thuế suất:

- Hạn mức đất ở: là hạn mức giao đất ở mới theo quy định của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, kể từ ngày 01/01/2012.

- Trường hợp đất ở đã có hạn mức trước ngày 01/01/2012 thì áp dụng như sau:

+ Nếu hạn mức đất ở thấp hơn hạn mức giao đất ở mới thì áp dụng hạn mức giao đất ở mới;

+ Nếu hạn mức đất ở cao hơn hạn mức giao đất ở mới thì áp dụng hạn mức đất ở cũ.

- Trường hợp thay đổi người nộp thuế thì hạn mức đất ở tính thuế là hạn mức giao đất ở hiện hànhdo UBND cấp tỉnh quy định và được áp dụng kể từ năm tính thuế tiếp theo, trừ trường hợp thay đổi người nộp thuế do nhận thừa kế, biếu, tặng giữa: vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau thì hạn mức đất ở tính thuế được thực hiện theo hạn mức đất ở quy định và áp dụng đối với người chuyển quyền.

- Trường hợp có quyền sử dụng nhiều thửa đất ở trong phạm vi tỉnh thì người nộp thuế chỉ được lựa chọn một thửa đất tại một huyện, quận, thị xã, thành phố nơi có quyền sử dụng đất để làm căn cứ xác định hạn mức đất tính thuế.

- Không áp dụng hạn mức đất ở đối với đất lấn, chiếm và đất sử dụng không đúng mục đích và đất chưa sử dụng theo đúng quy định.

7. Giá của 1m2 đất tính thuế:

Giá của 1m2 đất tính thuế là giá đất theo mục đích sử dụng của thửa đất tính thuế do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định và được ổn định theo chu kỳ 5 năm, kể từ ngày 01/01/2012.

- Trường hợp trong chu kỳ ổn định có sự thay đổi về người nộp thuế hoặc phát sinh các yếu tố làm thay đổi giá của 1m2 đất  tính thuế thì  không phải xác định lại giá của 1m2 đất cho thời gian còn lại của chu kỳ.

- Trường hợp được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp hoặc từ đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp sang đất ở trong chu kỳ ổn định thì giá của 1m2 đất tính thuế là giá đất theo mục đích sử dụng do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định tại thời điểm được giao đất, cho thuê đất hoặc chuyển mục đích sử dụng đất và được ổn định trong thời gian còn lại của chu kỳ.

- Trường hợp đất sử dụng không đúng mục đích hoặc lấn, chiếm thì giá của 1m2 tính thuế là giá đất theo mục đích đang sử dụng do UBND cấp tỉnh quy định áp dụng tại địa phương.

8. Các trường hợp được miễn thuế:

Luật thuế sử dụng đất PNN quy định miễn, giảm thuế trên cơ sở kế thừa Pháp lệnh hiện hành, đồng thời, Luật bổ sung quy định miễn thuế đối với các đối tượng như: đối tượng ưu đãi đầu tư cho phù hợp với quy định của Luật Đầu tư; đất của cơ sở thực hiện xã hội hoá (thuộc lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hoá, thể thao, môi trường); đất ở trong hạn mức của người có công với cách mạng; hộ gia đình, cá nhân trong năm bị thu hồi đất ở theo quy hoạch kế hoạch được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt để giảm bớt khó khăn cho các đối tượng này; giảm thuế 50% đối với thương binh hạng 3/4, hạng 4/4, người hưởng chính sách như thương binh hạng 3/4, 4/4; bệnh binh hạng 2/3, 3/3; con của liệt sĩ không được hưởng trợ cấp hàng tháng và một số đối tượng khác. Cụ thể:

- Đất của dự án đầu tư thuộc lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư; dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; dự án đầu tư thuộc lĩnh vực khuyến khích đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; đất của doanh nghiệp sử dụng trên 50% số lao động là thương binh, bệnh binh.

 - Đất của cơ sở thực hiện xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường.

 - Đất xây dựng nhà tình nghĩa, nhà đại đoàn kết, cơ sở nuôi dưỡng người già cô đơn, người khuyết tật, trẻ mồ côi; cơ sở chữa bệnh xã hội.

- Đất ở trong hạn mức tại địa bàn có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn.

- Đất ở trong hạn mức của người hoạt động cách mạng trước ngày 19/8/1945; thương binh hạng 1/4, 2/4; người hưởng chính sách như thương binh hạng 1/4, 2/4; bệnh binh hạng 1/3; anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; mẹ Việt Nam anh hùng; cha đẻ, mẹ đẻ, người có công nuôi dưỡng liệt sĩ khi còn nhỏ; vợ, chồng của liệt sĩ; con của liệt sĩ được hưởng trợ cấp hàng tháng; người hoạt động cách mạng bị nhiễm chất độc da cam; người bị nhiễm chất độc da cam mà hoàn cảnh gia đình khó khăn.

- Đất ở trong hạn mức của hộ nghèo theo quy định của Chính phủ.

 - Hộ gia đình, cá nhân trong năm bị thu hồi đất ở theo quy hoạch, kế hoạch được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt thì được miễn thuế trong năm thực tế có thu hồi đối với đất tại nơi bị thu hồi và đất tại nơi ở mới.

 - Đất có nhà vườn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận là di tích lịch sử - văn hóa.

 - Người nộp thuế gặp khó khăn do sự kiện bất khả kháng nếu giá trị thiệt hại về đất và nhà trên đất trên 50% giá tính thuế.

9. Các trường hợp được giảm thuế:

Giảm 50% số thuế phải nộp cho các trường hợp sau đây:

- Đất của dự án đầu tư thuộc lĩnh vực khuyến khích đầu tư; dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; đất của doanh nghiệp sử dụng từ 20% đến 50% số lao động là thương binh, bệnh binh;

- Đất ở trong hạn mức tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn;

- Đất ở trong hạn mức của thương binh hạng 3/4, 4/4; người hưởng chính sách như thương binh hạng 3/4, 4/4; bệnh binh hạng 2/3, 3/3; con của liệt sĩ không được hưởng trợ cấp hàng tháng;

- Người nộp thuế gặp khó khăn do sự kiện bất khả kháng nếu giá trị thiệt hại về đất và nhà trên đất từ 20% đến 50% giá tính thuế.

10. Nguyên tắc miễn, giảm thuế:

Luật thuế sử dụng đất PNN bổ sung nguyên tắc miễn, giảm thuế cụ thể:

- Người nộp thuế được hưởng cả miễn thuế và giảm thuế đối với cùng một thửa đất thì được miễn thuế; người nộp thuế thuộc hai trường hợp được giảm thuế trở lên thì được miễn thuế.

- Người nộp thuế đất ở chỉ được miễn thuế hoặc giảm thuế tại một nơi do người nộp thuế lựa chọn, trừ trường hợp quy định tại khoản 9 Điều 9 và khoản 4 Điều 10 của Luật thuế sử dụng đất PNN.

- Người nộp thuế có nhiều dự án đầu tư được miễn thuế, giảm thuế thì thực hiện miễn, giảm theo từng dự án đầu tư.

- Miễn thuế, giảm thuế chỉ áp dụng trực tiếp đối với người nộp thuế và chỉ tính trên số tiền thuế phải nộp theo quy định.

11. Đăng ký, kê khai, nộp thuế:

Để đảm bảo thuận tiện cho NNT đồng thời minh bạch, rõ ràng trong công tác quản lý của cơ quan thuế, việc đăng ký, kê khai, tính thuế, nộp thuế đã được quy định cụ thể:

Người nộp thuế đăng ký, khai, tính và nộp thuế tại cơ quan thuế huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hoặc khai thuế, nộp thuế tại cơ quan, cá nhân được cơ quan thuế uỷ quyền theo quy định của pháp luật nơi có quyền sử dụng đất.

Trường hợp ở vùng sâu, vùng xa, điều kiện đi lại khó khăn, người nộp thuế có thể thực hiện việc đăng ký, khai, tính và nộp thuế tại UBND xã.

* Người nộp thuế được cấp mã số thuế để sử dụng cho việc khai thuế, nộp thuế. Trường hợp NNT đã được cấp mã số thuế theo quy định tại Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành (theo các sắc thuế khác) thì được tiếp tục sử dụng mã số thuế đã có để thực hiện nghĩa vụ thuế SDĐPNN, không phải đăng ký để được cấp mã số thuế mới.

Trường hợp người nộp thuế là hộ gia đình, cá nhân thì thực hiện việc đăng ký, khai thuế và nộp thuế tại UBND xã, trong đó:

- Việc khai thuế chỉ thực hiện 01 lần (lần đầu tiên), nếu không có sự thay đổi các yếu tố tính thuế dẫn đến thay đổi số thuế phải nộp thì người nộp thuế không phải khai lại hàng năm.

- Cơ quan tính và thông báo số thuế phải nộp cho người nộp thuế.

* Hồ sơ khai thuế:

- Hồ sơ kê khai thuế SDĐPNN phải nộp của năm, gồm:

+ Tờ khai thuế SDĐPNN cho từng thửa đất chịu thuế theo mẫu số 01/TK-SDDPNN áp dụng đối với hộ gia đình, cá nhân hoặc mẫu số 02/TK-SDDPNN áp dụng cho tổ chức ban hành kèm theo Thông tư 153/2011/TT-BTC:

+ Bản chụp các giấy tờ liên quan đến thửa đất chịu thuế  như: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Quyết định giao đất, Quyết định hoặc Hợp đồng cho thuê đất, Quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất;

+ Bản chụp các giấy tờ chứng minh thuộc diện được miễn, giảm thuế (nếu có).

- Hồ sơ khai tổng hợp thuế SDĐPNN (chỉ áp dụng đối với đất ở), gồm:

+ Tờ khai tổng hợp thuế SDĐPNN mẫu số 03/TKTH-SDDPNN ban hành kèm theo Thông tư 153/2011/TT-BTC.

Người nộp thuế được lựa chọn một nơi có thửa đất ở vượt hạn mức để xác định diện tích vượt hạn mức của các thửa đất.

Chậm nhất là ngày 31/3 năm dương lịch tiếp theo, NNT lập tờ khai tổng hợp gửi cơ quan thuế nơi NNT đã lựa chọn để xác định hạn mức đất ở để nộp phần chênh lệch giữa số thuế phải nộp theo quy định của Luật và số thuế đã nộp.

* Nguyên tắc khai thuế:

+ Người nộp thuế có trách nhiệm khai chính xác vào Tờ khai thuế các thông tin có liên quan đến NNT, các thông tin có liên quan đến thửa đất chịu thuế như diện tích, mục đích sử dụng… Nếu đất đã được cấp Giấy chứng nhận thì phải khai đầy đủ các thông tin trên Giấy chứng nhận như số, ngày cấp, số tờ bản đồ, diện tích đất, hạn mức (nếu có).

Đối với hồ sơ khai thuế đất ở của hộ gia đình, cá nhân, UBND cấp xã xác định các chỉ tiêu tại phần xác định của cơ quan chức năng trên tờ khai và chuyển cho Chi cục Thuế để làm căn cứ tính thuế.

Đối với hồ sơ khai thuế của tổ chức, trường hợp cần làm rõ một số chỉ tiêu liên quan làm căn cứ tính thuế theo đề nghị của cơ quan thuế, cơ quan Tài nguyên môi trường có trách nhiệm xác nhận và gửi cơ quan thuế.

+ Hàng năm, NNT không phải khai lại nếu không có sự thay đổi các thông tin dẫn đến thay đổi số thuế phải nộp.

+ Thời hạn thu hồi Tờ khai: chậm nhất đến ngày 30/6/2012

* Thời hạn nộp thuế:

- Thời hạn nộp tiền thuế hàng năm chậm nhất là ngày 31/12. NNT được quyền lựa chọn nộp thuế 1 lần hoặc 2 lần trong năm và phải hoàn thành nghĩa vụ thuế chậm nhất là ngày 31/12 hàng năm.  

- Trường hợp trong chu kỳ ổn định 5 năm mà người nộp thuế đề nghị được nộp thuế 1 lần cho nhiều năm thì thời hạn nộp thuế chậm nhất là ngày 31/12 của năm đề nghị.

- Trường hợp NNT có nhiều thửa đất ở vượt hạn mức thì phải làm thủ tục khai tổng hợp để tự xác định số thuế phải nộp bổ sung, thời hạn chậm nhất là ngày 31/3 năm sau.


Các tin tức khác

Video

Loading the player ...

Liên kết website